“Tia sáng từ Balan” – Thời Điểm Thương Xót

“Tia sáng từ Balan”

TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

 

“Từ Balan Cha sẽ làm vọt lên một tia sáng để sửa soạn cho thế giới lần đến cuối cùng của Cha” (Nhật Ký Chị Faustina 1732)

Tia sáng từ Balan này phải chăng là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, vị giáo hoàng không phải người Ý sau 455 năm (1523-1978) và lại là một vị giáo hoàng xuất thân từ một nước cộng sản ở Đông Âu là Balan.

Biến cố vị giáo hoàng thuộc một thế giới cộng sản bất ngờ xuất hiện trên ngai tòa Thánh Phêrô quả thực là một sự lạ chưa từng thấy, một thế giới vô thần chịu chức linh mục còn khó huống chi lại còn trở thành Giáo Hoàng! Việc ấy xẩy ra làm sao được, nếu Đấng Quan Phòng Thần Linh là Chúa của lịch sử không nhúng tay vào khi tới thời điểm của Ngài. Và Ngài đã nhúng tay vào như thế nào trong sự kiện “Từ Balan Cha sẽ làm vọt lên một tia sáng…” này?

Căn cứ vào những dữ kiện lịch sử thì phải nói rằng chính cộng sản Balan đã không ngờ tích cực giúp cho dự án thần linh của Thiên Chúa được thực hiện. Ở chỗ, khi vị tổng giám mục TGP Krakow qua đời năm 1962 thì Đức Hồng Y Giáo Chỉ Balan bấy giờ là Wyszynski phải tìm một vị chủ chăn khác thay thế. Vị hồng y giáo chủ này đã đề cử 3 vị giám mục để Tòa Thánh có thể chọn thay vị TGM vừa qua đời, trong đó không có tên của Đức Cha Karol Wojtyla bấy giờ đang là Đức Giám Mục phụ tá xử lý thường vụ TGP này.

Lý do không phải giữa vị hồng ý giáo chủ và vị giám mục phụ tá của tổng giáo phận đang trống ngôi bấy giờ có hiểm khích gì với nhau hay kỵ nhau, mà chỉ vì vị hồng ý cần tuyển chọn những vị giám mục mạnh mẽ chống cộng, trong khi đó vị giám mục Karol Wojtyla, theo ngài, không đủ tiêu chuẩn, vì vị giám mục này có vẻ thiên về trí thức và mục vụ nhiều hơn.

Thế nhưng, hai bản danh sách này đều không được chính quyền cho phép gửi sang Tòa Thánh, vì 1 trong 2 vị có thẩm quyền trong chính phủ bấy giờ là  Kliszko cho biết là cần phải có tên của Đức Giám Mục Karol Wojtyla mới được, vì theo cái nhìn của cộng sản thì vị giám mục này dễ nắm đầu hơn các vị trong 2 danh sách trước. Biết thế, vị hồng y giáo chủ đành phải làm theo và phó mặc mọi sự cho Chúa Quan Phòng định liệu.

Không ngờ, sau 1 năm rưỡi trì hoãn về danh sách đề cử thiếu tên của Đức Giám mục phụ tá TGP Krakow như thế lại là thời gian cần phải có để cho vị giám mục hầu như vô danh tiểu tốt Karol Wojtyla này trước ĐTC Phaolô VI và hàng giáo phẩm trên thế giới từ từ nổi lên và nổi bật trong Công đồng Chung Vatican II, một biến cố lịch sử quan trọng của Giáo Hội hoàn vũ được khai mạc từ ngày 11/10/1962, để rồi nhờ đó, Đức Phaolô VI đã chọn cho TGP Krakow một tân TGM là Đức Cha Karol Wojtyla, đúng như cộng sản Balan mong muốn, nhưng lại là “gập ông đập lưng ông”, như người viết đã chia sẻ trong bài “Tại sao ĐTC Gioan Phaolô II bị ám sát?”.

Nếu quả thực “tia sáng vọt lên từ Balan” này là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, (vì ở đây, trong lời tiên báo khẳng định của Ngài, Chúa Giêsu không nói “một ánh sáng” mà chỉ là “một tia sáng”), thì phải chăng ngài được Thiên Chúa sai đến “để sửa soạn cho thế giới lần đến cuối cùng của Cha”?

Theo Nhật Ký của Chị Thánh Faustina, thì không phải chỉ có ở trong lời tiên báo liên quan đến Balan này Chúa Giêsu mới nói đến “lần đến cuối cùng của Cha”, mà còn ở một số lần khác nữa. Chẳng hạn như ở các khoản Nhật Ký khác, Chị Thánh Faustina đã ghi lại lời Chúa và Đức Mẹ liên quan tới “lần đến cuối cùng của Cha” như sau:

Lời Chúa: “Hỡi con gái của Cha, con hãy nói cho thế giới biết về tình thương của Cha; tất cả loài người hãy nhận biết tình thương khôn thấu của Cha. Đó là dấu hiệu cho ngày cùng tháng tận; sau đó sẽ là ngày của công lý…” (NK 848).

Lời Đức Mẹ: “Mẹ đã ban Đấng Cứu Thế cho thế giới, còn phần con, con hãy nói cho thế giới về tình thương cao cả của Ngài và sửa soạn thế giới cho lần đến thứ hai của Đấng sẽ đến, không phải như là một Vị Cứu Thế xót thương nữa mà là như một quán án công minh. Ôi, kinh hoàng thay ngày ấy! Ôi quyết liệt thay ngày của công lý, ngày giận dữ thần linh” (NK 635).

Nếu thời điểm của Lòng Thương Xót Chúa liên quan đến “lần đến cuối cùng của Cha” và “tia sáng vọt lên từ Balan” là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thì phải chăng ngài đã cảm nghiệm rất đúng khi bày tỏ trong bài giảng Lễ Cung Hiến Đền Thờ Chúa Tình Thương Thứ Bảy 17/8/2002: “thế giới ngày nay cần đến tình thương của Thiên Chúa biết bao” (Balan 17/8/2002)?

Phải chăng chính vì “thế giới ngày nay cần đến LTXC biết bao” mà LTXC đã phải cấp tốc làm phát ra “một tia sáng từ Balan” là ĐTC Gioan Phaolô II để thiết lập Lễ LTXC như Ngài mong muốn, một lễ được Chúa Giêsu khẳng định với Chị Faustina là “niềm hy vọng cuối cùng của ơn cứu độ” (Nhật ký 965 và 998). Thực tế cho thấy, cuốn Nhật Ký của Chị Thánh Faustina bị Tòa Thánh cấm đọc từ năm 1958 và 1959, kéo dài mãi tới ngày 15/4/1978, năm xuất hiện “tia sáng từ Balan” trên ngai tòa Thánh Phêrô ngày 16/10 là Đức tân Giáo hoàng “đến từ một xứ sở xa xôi” Gioan Phaolô II, thì không biết đến bao giờ Lễ LTXC mới được Giáo Hội thiết lập, trong khi càng ngày “thế giới cần đến LTXC biết bao”, tức cần đến “Lễ LTXC là niềm hy vọng cuối cùng của ơn cứu độ”!

Vậy “thế giới ngày nay cần đến tình thương của Thiên Chúa biết bao” theo nhận định từ trên cao của ngài là vị mục tử tối cao của Giáo Hội Công Giáo như thế nào và ra sao? Trong bài giảng Lễ tôn phong 4 vị tân chân phước người Balan Chúa Nhật 18/8/2002 ở Balan, ngài đã dường như ngấm ngấm cho biết lý do tại sao “thế giới ngày nay cần đến tình thương của Thiên Chúa biết bao” như thế này:

“Có lẽ vì thế kỷ 20, mặc dù có những thành đạt không thể chối cãi về nhiều lãnh vực, cũng đã bị ghi dấu một cách đặc biệt bởi mầu nhiệm lỗi lầm – mystery of iniquity’. Chúng ta đã tiến vào ngàn năm mới với di sản vừa thiện vừa ác này. Những chân trời mới trong việc phát triển đang mở ra trước nhân loại, kèm theo đó có cả những cái nguy hiểm chưa từng có. Con người thường sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu, thậm chí đặt mình vào vị thế của Thiên Chúa nữa. Họ tự cho mình quyền hành của một Vị Tạo Hóa trong việc can thiệp vào mầu nhiệm sự sống con người. Họ muốn định đoạt sự sống con người bằng cách léo lái việc truyền giống cũng như muốn thiết định giới hạn sự chết. Khi loại trừ lề luật thần linh và những nguyên tắc luân lý, họ công khai tấn công cơ cấu gia đình. Bằng những cách thức khác nhau, họ cố gắng làm cho Thiên Chúa phải im hơi lặng tiếng nơi tâm can của con người; họ muốn làm cho Thiên Chúa ‘hoàn toàn khuất bóng’ nơi văn hóa và lương tâm các dân tộc. ‘Mầu nhiệm lầm lỗi’ tiếp tục đánh dấu cái thực tại của thế giới này”.

Phải chăng cảm nhận hiện đại rất chân thực của vị giáo hoàng xuất thân từ một nước cộng sản Balan này đã là những gì ứng nghiệm lời tiên báo của Thánh Phaolô trong Thư thứ 2 ngài gửi cho Giáo Đoàn Thessalonica, đoạn 2 từ câu 1 đến câu 4 nguyên văn như sau:

1 Hỡi anh em, về sự Quang lâm của Chúa [chúng ta] Ðức Yêsu Kitô là sự ta được hội ngộ với Ngài, chúng tôi xin anh em 2 đừng vội để mình bị giao động lòng trí và kinh hoàng, dù bởi Thần khí hay tuyên ngôn hoặc thư từ nào nói là của chúng tôi: như thể Ngày của Chúa đã đến! 3 Ðừng để ai phỉnh gạt anh em một cách nào! Trước tiên phải xẩy ra sự tình trạng bỏ đạo / rối đạo tập thể / hàng loạt (mass apostasy), và xuất hiện con người lăng loàn vô đạo (lawlessness/lawless one), đứa hư đốn, 4 kẻ dấy lên chống lại vươn mình lên như thần linh đáng được sùng bái, thậm chí hắn dám ngự trị trong ngai tòa của Thiên Chúa, cho mình là Thiên Chúa! 5

Trước hết về tình trạng bỏ đạo hay rối đạo tập thể, chúng ta thấy đang ứng nghiệm lời Chúa Giêsu nói ở Phúc Âm Thánh Luca đoạn 18 câu 8, đó là “không biết khi Con Người đến có còn thấy đức tin trên thế gian này nữa hay chăng”, hay ở Phúc Âm Thánh Mathêu ở đoạn 24 câu 12 như sau: “Vì sự dữ gia tăng mà nhiều người trở nên nguội lạnh”. Tình trạng bỏ đạo tập thể hay hàng loạt được thể hiện hiển nhiên nhất ở các nước Tây Phương Kitô giáo, với cơ nguy giảm sút ơn gọi tu trì và linh mục cùng với hiện tượng đóng cửa nhà thờ hay biến nhà thờ thành những nơi vui chơi xã hội, và tình trạng rối đạo tập thể hay hàng loạt được thấy rõ ràng nhất nơi nạn linh mục lạm dụng tình dục trẻ em hay nạn hôn nhân đồng tính ngoài xã hội v.v.

Sau nữa, về sự kiện “xuất hiện con người lăng loàn vô đạo…”, ở đây, có thể nói không phải là một cá nhân, mà là một chủ thuyết, đó là chủ thuyết duy nhân bản, duy ngã độc tôn, chỉ có mình là tuyệt đối, ở chỗ những gì con người nghĩ ra mới là sự thật (nhân danh quyền làm người để sát hại nhau ở thế giới Tây phương Kitô giáo, hay nhân danh Thiên Chúa để khủng bố kẻ thù ở thế giới Ả Rập Hồi Giáo), và những gì con người muốn làm mới là sự thiện, (chẳng hạn hôn nhân đồng tính hoặc tạo sinh ngoại nhiên – trong ống nghiệm, mang thai mướn, sao bản cloning v.v.); ngoài ra, họ coi mọi sự là tương đối, thậm chí kể cả luật tự nhiên và các nguyên tắc bất di dịch của luân thường đạo lý, và giải quyết tất cả mọi sự theo chủ trương duy thực dụng, với tiêu chuẩn tối cao là bất cứ cái gì có lợi ngay trước mắt (ly dị, ngừa thai nhân tạo, phá thai, triệt sinh an tử, triệt sinh trợ tử v.v.) là làm và là những gì khôn ngoan nhất.

Nếu quả thực hai dấu hiệu: dấu hiệu “bỏ đạo hay rối đạo tập thể” và dấu hiệu “xuất hiện con người lăng loàn vô đạo…” là những gì thật sự và hiển nhiên đang xẩy ra trong lịch sử và trên thế giới hiện nay, chưa bao giờ thấy, nhất là ở thế giới Tây phương vốn là thế giới được mệnh danh Kitô giáo, thế giới của thành phần “10 cô trinh nữ / phù dâu” trong dụ ngôn về ngày cùng tháng tận ở đầu đoạn 25 của Phúc Âm Thánh Mathêu, thì phải chăng đã đang ứng nghiệm lời tiên báo của Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô về mức độ đã “đầy đủ số Dân Ngoại” (Rm 11:25), và đó là dấu hiệu cho thấy đã đến lúc “toàn thể dân Israel sẽ được cứu” (Rm 11:26).

Nghĩa là khi Dân Ngoại được coi là Kitô giáo bắt đầu băng hoại, thì Thiên Chúa nhớ lại dân của Ngài, bằng cách tỏ mình ra cho họ một cách nào đó, nhờ đó, họ sẽ nhận biết Ngài “là vị Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là  Đức Giêsu Kitô” (Jn 17:3), và như thế, quả thực đúng như những gì Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã báo cho Chị Thánh Faustina biết về “lần đến cuối cùng của Cha”, về ngày cùng tháng tận của con người, của thế giới, của lịch sử.

Tuy nhiên, nếu chúng ta tin yêu Thiên Chúa, chúng ta chẳng những không sợ, mà còn hân hoan vì thấy rằng chúng ta sắp sửa được gặp và được gặp Đấng chúng ta hằng khao khát mong chờ, như những cô trinh nữ hay phù dâu khôn ngoan cầm đèn đức tin đầy dầu đức cậy cháy sáng đức mến đi nghênh đón chàng rể đến cho dù vào ngay nửa đêm là lúc đen tối nhất cũng chính là lúc con người say ngủ nhất.