Lòng Thương Xót Chúa cứu độ – Thời Điểm Thương Xót

Lòng Thương Xót Chúa cứu độ

Lòng Thương Xót Chúa cứu độ

 

TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

 

Chính vì Thiên Chúa nhưng không dựng nên con người từ hư vô là để cho con người được muôn đời hiệp thông thần linh với Ngài mà cho dù con người có sa ngã phạm tội nơi hai nguyên tổ ngay từ ban đầu, Ngài vẫn tiếp tục yêu thương họ, thậm chí còn tỏ lòng yêu thương họ hơn bao giờ hết, ở chỗ, Ngài đã tự hứa cứu chuộc họ qua Đấng Cứu Thế là chính Con của Ngài.

Và chính vì Thiên Chúa là tình yêu vô cùng nhân hậu mà Ngài đã trở thành, phải nói rằng, vô cùng ác nghiệt đối với Con Duy Nhất của Ngài, đến độ, theo lý lẽ nhân loại, Ngài quả thực là điên khùng, mất trí, khi hy sinh Con Một duy nhất và vô cùng cao quí của mình để đổi lấy một loại thụ tạo vô cùng thấp hèn, một loài thụ tạo chẳng những không có một giá trị gì để đáng được Ngài yêu thương mà còn đáng giáng phạt đời đời bởi tội lỗi của họ nữa, một loài thụ tạo chẳng biết Ngtài là ai và chẳng bao giờ có thể yêu mến Ngài cho xứng với tình Ngài yêu thương họ.

Thế mà Ngài đã tỏ ra quá ư là ác độc trong việc đọa đầy Con Duy Nhất của Ngài, ở chỗ “Thiên Chúa đã không dung tha cho Con của Ngài, một phó nộp Người vì tất cả chúng ta” (Rm 8:32), đến độ, trong bản tính loài người, Con của Ngài đã phải kêu lên trên cây thập tự giá khi sắp sửa trút hơi thở cuối cùng rằng: “Chúa Tôi ơi, Chúa Tôi ơi, sao Ngài lại bỏ rơi tôi” (Mt 27:46).

Ôi còn ai đáng thương hơn Đấng vô tội là Con Thiên Chúa vô cùng cao cả bị treo trên cây thập tự giá như một tên đại ma đầu giữa hai tên trộm cướp tử tội. Người còn đáng thương hơn cả thành phần tội nhân được Người cứu độ nữa, thành phần tội nhân đáng phải chịu đóng đanh như Người để được cứu độ chứ không phải là Người. Ấy thế mà, dù không phải chịu đóng đanh như Người, chỉ hơi chịu trái ý một chút trong tâm hồn hay bị đớn đau một tẹo trên thân xác, hoặc bị khinh khi một chút, con người mang danh Kitô hữu, môn đệ của Chúa Kitô, đã than trách Chúa, tại sao Ngài vô cùng tốt lành thiện hảo lại có thể để cho kẻ “vô tội” phải chết oan, để cho họ phải chịu hiểu lầm oan ức v.v.

Nếu con người không tin có đời sau, có sự sống vĩnh phúc, họ sẽ không thể nào giải quyết được vấn đề đau khổ vô cùng nan giải và bất khả giải quyết. Trong khi đó, theo đức tin, Thiên Chúa dựng nên con người cho đời sau, cho cuộc sống vĩnh hằng với Ngài, mà Ngài vô cùng khôn ngoan có đủ mọi phương cách để cứu họ, cho dù Ngài có phải sử dụng đến sự dữ là đau khổ và chết chóc mà Ngài không dựng nên, hơn là hậu quả của nguyên tội, thậm chỉ Ngài lợi dụng cả tội lỗi của chính con người là những gì hoàn toàn phản lại bản tính vô cùng thiện hảo của Ngài.

Cho tới chết con người vẫn không thể nào biết được bản thân mình và tương lai của mình. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng mới biết họ hơn họ biết họ nên Ngài đã quan phòng “thực hiện hết mọi sự am hợp với nhau cho lợi ích của thành phần được kêu gọi theo dự định của Ngài” (x Rm 8:32). Thế mà trên thực tế con người cứ cho mình là khôn ngoan nhất, lúc nào cũng muốn tự quyết theo ý riêng của mình, cho dù biết được ý Chúa và nhất là khi gặp bất cứ sự gì xẩy ra trái ý của họ, trong đó có những trái ý gây ra bởi việc họ liều lĩnh, bất cẩn, tham lam v.v. hoàn toàn muốn làm chủ cuộc đời mình, hơn là ngoan ngoãn đóng vai trò là một người quản lý đối với những gì được trao ban cho họ, hay vai trò tá điền đối vời trách nhiệm canh tác phục vụ hơn là hưởng thụ của họ.

Nếu mục đích của Thiên Chúa dựng nên con người cho đời sau, ở chỗ, để con người được hiệp thông thần linh với Ngài, được sống đời đời, thì, về phần con người, để đạt được cùng đích duy nhất cũng là ơn gọi tối hậu của mình là tình trạng hiệp thông thần linh vĩnh hằng ấy, con người cần phải nhận biết Ngài mới được: “Sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Đức Giêsu Kitô” (Jn 17:3).

Và Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho con người, nói chung, chẳng những qua mầu nhiệm tạo dựng, qua thiên nhiên tạo vật, qua lương tâm chân chính của họ, qua Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái, mà nhất là qua chính Con Ngài là Đức Giêsu Kitô “khi đến thời điểm viên trọn” (Gal 4:4). Ngoài ra, theo sự quan phòng thần linh vô cùng khôn ngoan của mình, Ngài còn tỏ mình ra cho chung lịch sử loài người cũng như cho riêng từng người bằng những gì con người không thể nào hiểu nổi hay khó hiểu nổi, thậm chí không thể nào chấp nhận hay rất khó có thể chấp nhận được, nhất là đối với những ai không tin có đời sau và không ý thức được cùng đích của đời sống con người trên trần gian này.

Bởi vì, vấn đề Thiên Chúa tỏ mình ra liên quan mật thiết đến sự dữ cũng như liên quan đến đường lối tỏ mình ra của Ngài hầu như bao giờ cũng hoàn toàn trái với những gì con người mong đợi. Đó là lý do, đối với họ, vấn đề thật sự là nan giải ở đây đó là tại sao Thiên Chúa là Đấng tốt lành vô cùng toàn thiện lại có thể để cho sự dữ xẩy ra, nhất là xẩy ra cho những con ngtười vô tội.

Thật ra, trước hết, sự dữ (bao gồm đau khổ, chết chóc và tội lỗi) hoàn toàn không xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng vô cùng thiện hảo. Ngài không dựng nó ngay từ ban đầu như Ngài đã tạo dựng nên “mọi sự … rất tốt đẹp” (Gen 1:31). Sự dữ đã xuất phát từ nguyên tội và chỉ xuất hiện sau nguyên tội, từ tội lỗi của con người và bởi tội lỗi của con người (x Gen 3:16-19). Thế nhưng, tội lỗi của con người đã trở thành cơ hội hiếm quí, cần thiết và tốt đẹp để Thiên Chúa càng tỏ mình ra cho con người thấy được một cách thực tế hơn, ngay trong giòng lịch sử của mình, Vị Thiên Chúa Hóa Công của họ là ai và như thế nào, từ khi Ngài tự động hứa cứu chuộc họ (x Gen 3:15).

Căn cứ vào tác động đầu tiên này của Thiên Chúa Hóa Công trong việc tỏ mình ra cho con người, chúng ta thấy 1- Ngài có thể ngăn chặn con người khỏi sa ngã phạm tội vì họ đã đi quá quyền hạn tạo vật của mình, nhưng Ngài vẫn không làm, trái lại, Ngài còn để cho nó xẩy ra nhờ đó Ngài tỏ mình ra hầu con người có thể nhận biết Ngài mà được cứu độ, đúng như mục đích Ngài đã dựng nên họ. Thực tế cũng cho thấy, Ngài có thể ngăn cản tay sát hại Thánh Nữ Maria Goretti vì hắn làm điều bậy bạ, phạm đến trinh tiết và sự sống của vị thánh nữ này, nhưng Ngài vẫn để hắn làm việc ấy, nhờ đó Ngài bắn 1 phát súng trúng 2 con chim, con chim thứ nhất là người con gái 12 tuổi ấy đã trở thành một vị thánh và con chim thứ hai là phần rỗi của chính kẻ sát hại người thiếu nữ trinh trắng ấy.

Trong việc quan phòng thần linh, Thiên Chúa, cho dù biết trước tất cả những gì sẽ xẩy ra, hầu như bao giờ Ngài cũng tôn trọng tự do của con người, để họ hoàn toàn “lộng hành” theo ý nghĩ khôn ngoan nhất của họ cũng như theo “quyền” tự do của họ. Điển hình nhất là biến cố Đức Giám Mục Karol Wojtyla được chính cộng sản Balan “khôn ngoan” mong muốn ngài làm Tổng Giám Mục ở Tổng Giáo Phận Krakow năm 1962, không ngờ lại là vị đã làm sụp đổ chế độ cộng sản Đông Âu và Liên Sô hơn kém 30 năm sau đó. Ngài không phải là một đạo diễn viết kịch bản và các diễn viên cứ thể mà diễn theo những gì Ngài viết. Đúng hơn, Ngài chính là Chủ Lịch Sử của loài người. Ngài biết hết mọi sự. Con người vẫn được tự do hành động theo ý nghĩ khôn ngoan nhất của họ. Nhưng cho dù con người có thế nào chăng nữa, Thiên Chúa vẫn có thể thực hiện việc “dẫn thủy nhập điền” trong việc hoàn thành dự định thần linh tối hậu, bất dịch và vô cùng trọn hảo của Ngài.

Chính vì con người vừa mù quáng vừa yếu đuối như thế mà họ đã trở thành đối tượng vô cùng đáng thương của Vị Thiên Chúa là Tình Yêu vô cùng nhân hậu, Vị Thiên Chúa, trong Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu gửi Các Hồn Nhỏ qua nữ sử giả người Bỉ biệt dang Marguerite vào bán thập niên 1960 sang thập niên 1970, đã có những lời rất chí lý, vừa hợp với Thánh Kinh nói chung và Phúc Âm nói riêng lại vừa đúng với đời sống tu đức của người Kitô hữu nữa.

Sau đây là ba lời tiêu biểu của Chúa Giêsu liên quan đến 3 thời điểm hay đúng hơn là 3 trường hợp của tất cả mọi Kitô hữu: 1- trường hợp con người đang sống trong tội lỗi; 2- trường hợp con người tỏ ra ăn năn thống hối; và 3- trường hợp con người không chịu ăn năn thống hối.

Trường hợp khi còn sống trong tội lỗi: “Thời gi con sống trong khoái lạc hão huyền là thời giờ Cha đợi chờ con” (18/11/1967). Câu này rất hợp với trường hợp của người phụ nữ Samaritanô tội lỗi trong Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 4, người phụ nữ sống với 6 người đàn ông khác nhau không phải là chồng của mình. Nhưng không ngờ, vào trưa hôm ấy, như mọi trưa khác trong đời chị, một thời khắc nắng nôi trong ngày lại được chị lợi dụng để ra kín nước hầu có thể tránh làng nước khinh khi dòm ngó chê bai một con người tội lỗi như chị, đúng là không ngờ, hoàn toàn bất ngờ, chị lại gặp được chính Đấng đang ngồi chờ chị ấy ở Giếng Giacóp để thỏa đáng cơn khát thứ nước hằng sống của chị.

Trường hợp của một tâm hồn (Chị Nguyễn Mai) ở Virginia sang California để tham dự Đại Hội Hồn Nhỏ Việt Nam 33 Năm, đã không ngờ đến với Khóa Tĩnh Huấn Hãy Học Cùng Cha III (30/9-1/10/2012), một khóa được tổ chức đặc biệt cho các hồn nhở như chị ở Philadelphia và  Virginia, một tâm hồn đã trải qua một đời sống vợ chồng bất hợp luật Chúa, không được xưng tội rước lễ, nhưng Chúa đã ngồi chờ chị ấy ở tấm biểu ngữ “Xin Chiếm Đoạt Con” treo trên bức tường cuối hội trường vào chiều hôm Thứ Sáu ngày 30/9/2012 ấy, khi nó đập vào mắt chị và chị đã vừa đọc vừa cảm xúc đến độ, sau đó đúng 1 tháng (1/10-1/11/2011), nhờ ơn Chúa, chị đã vượt thoát một cách hôn mê đời sống bất xứng của chị với một người chồng ngoại quốc, một cuộc vượt thoát chị đã chẳng cần đến việc chia tài sản mấy triệu bạc của anh ta, cho dù sau đó chị vẫn bị hình ảnh và tiếng nói của anh ta ám ảnh và phải chống trả với chước cám dỗ trở về với anh ta để cứu anh ta.

Trường hợp khi ăn năn thống hối: Trong con mắt của Cha, một tội nhân trên đường tìm về với Cha thì không còn là một tội nhân nữa, mà là một linh hồn bị thương tích đang trên đường tìm về ánh sáng và chân lý(26/1/1969). Đây là trường hợp rất đúng với người con phung phá trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu, một người cha, theo Phúc Âm Thánh Luca đoạn 15, khi vừa thấy bóng nó trở về, liền tự động chạy đến với nó, chứ không cần phải chờ nó về đến nhà, và đã ôm chầm ngay lấy nó hôn lấy hôn để, không cần phải nghe thấy tiếng nó xin lỗi mình, thậm chí sau đó lại còn mở tiệc linh đình mừng nó trở về.

Theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, trong trường hợp khẩn cấp nguy tử, không kịp gặp linh mục để xưng tội, tội nhân vẫn có thể được tha tội và được rỗi nếu họ đã phạm trọng tội nhưng đã tỏ lòng ăn năn tội cách trọn, tức là ăn năn tội không phải vì sợ sa hỏa ngục mà là vì mình đã làm mất lòng Chúa là Đấng đã yêu thương mình, khiến mình cảm thấy bất xứng với Ngài: “Cha ơi, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng gọi là con cha nữa đâu. Xin hãy coi con như là đầy tớ của cha thôi”.

Trường hợp mù quáng cứng lòng: “Vị Thiên Chúa báo oán chỉ là một người cha tội nghiệp khi phải ra tay trừng phạt con cái mình để buộc chúng phải hồi tâm nghĩ lại” (19/12/1973). Nghe qua câu này chúng ta tự nhiên cảm thấy sợ Chúa và thấy nó mâu thuẫn làm sao ấy: “Vị Thiên Chúa báo oán chỉ là một người cha tội nghiệp…” Đúng thế, “Vị Thiên Chúa báo oán” đây bằng những hình phạt Ngài giáng xuống tội nhân. Thế nhưng, chỉ vì bất đắc dĩ mà thôi, chỉ vì muốn cứu họ mà thôi, và đó là cách cuối cùng Ngài có thể dùng và muốn dùng để cứu họ. “Người cha tội nghiệp” đây là bởi vì chẳng những Ngài là Đấng hằng yêu thương con người lại trở thành nạn nhân “tội nghiệp” bị con người ngang nhiên xúc phạm, mà còn chính vì cái bất đắc dĩ “tội nghiệp” này mà “phải ra tay trừng phạt con cái mình để buộc chúng phải hồi tâm nghĩ lại”, nhờ đó họ mở mắt ra, thấy được tất cả sự thật mà được giải cứu (x Jn 8:32).

Câu này thoạt nghe có vẻ thích hợp với trường hợp của đứa con phung phá trong dụ ngôn người cha nhân hậu. Thế nhưng, nó thích hợp nhất với trường hợp của người phụ nữ bị bắt quả tang khi chị phạm tội ngoại tình ở đoạn 8 của Phúc Âm Thánh Gioan. Thiên Chúa đã phải sử dụng đến hình phạt vô cùng ô nhục và bị ném đá theo Luật Moisen để cứu người phụ nữ ngoại tình ấy. Chị ta đâu có ngờ rằng chính lúc mình đang mê mẩn phạm tội mất lòng Chúa thì Ngài lại báo oán chị như thế, nhờ đó, chị chẳng những được Ngài cứu cả về phần xác lẫn phần hồn, mà còn qua trường hợp của chị, Ngài còn cứu được cả thành phần bắt chị và định ném đá chị nữa, trong việc làm cho họ mở mắt ra nhận biết mình hơn và thông cảm với tội nhân hơn.