Tây Phương Đức Tin Phá Sản – Thời Điểm Thương Xót

Tây Phương Đức Tin Phá Sản

Tây Phương Đức Tin Phá Sản

TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

Viết theo chiều hướng nhận định của ĐTC Gioan Phaolô II trong Bài giảng tuyên phong 4 Chân phước Balan CN 18/8/2002 ở Balan

Thế kỷ 20, mặc dù có những thành đạt không thể chối cãi về nhiều lãnh vựccũng đã bị ghi dấu một cách đặc biệt bởi ‘mầu nhiệm gian ác mystery of iniquity’. Chúng ta đã tiến vào ngàn năm mới với di sản vừa thiện vừa ác này. Những chân trời mới trong việc phát triển đang mở ra trước nhân loại, kèm theo đó có cả những cái nguy hiểm chưa từng có. …”

Đó là lý do cho loạt bài sau đây:

1- Âu Châu Văn Minh Tiến Bộ

2- Âu Châu Ý Hệ Nhân bản

3- Tây Phương Đức Tin Phá Sản

4- ĐTC Biển Đức XVI với Văn Minh Tây Phương

5- ĐTC Gioan Phaolô II với Ý Hệ Âu Châu

 

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao, cho tới thể kỷ 19, với một gia sản phong phú về văn minh khoa học và kỹ thuật đệ nhất thiên hạ như thế và với một ý hệ văn hóa về nhân bản và nhân quyền như thế, Âu Châu, vào tiền bán thế kỷ 20, lại là nơi diễn ra hai Thế Chiến I (1914-1918) và II (1939-1945)?

Tại sao cho tới đầu thiên kỷ thứ ba Kitô giáo này, cho tới thể kỷ 21 này, Âu Châu, một châu lục Kitô Giáo lại trở thành một đại lục mất gốc, hoàn toàn chối bỏ yếu tố chính yếu hình thành nên văn hóa của mình, hiển nhiên nhất qua bản hiến pháp của Khối Hiệp Nhất Âu Châu, một bản hiến pháp cho tới nay vẫn chưa hoàn thành?

Đó là lý do không lạ gì Âu Châu đã là mối quan tâm sâu xa của những vị Giáo Hoàng trong Thời Điểm Maria, cả trong thế kỷ 19 lẫn thế kỷ 20 và 21. Trong thế kỷ 19 có Đức Gregory XVI, Piô IX và Lêo XIII, trong thế kỷ 20 có Đức Piô X, XI, XII, Phaolô VI và Gioan Phaolô II, và trong thế kỷ 21 có Vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI.

Vừa mở màn cho Thời Điểm Maria năm 1830, chúng ta thấy xuất hiện một Đức Gregory XVI (1831-1846), ở Thông Điệp Mirati Vos ban hành vào năm 1832, ngài đã cảnh báo về một thứ “tự do quá trớn (excessive) và ngông cuồng (extravagant) về tư tưởng đang tràn lan rộng rãi tác hại cả Giáo Hội và xã hội dân sự”.

Ngày 8-12-1864, Giáo Hoàng Chân Phước Piô IX (1846-1878), để vạch trần bộ mặt giả trá và ghê gớm của trào lưu tân tiến “tự do quá trớn (excessive) và ngông cuồng (extravagant) về tư tưởng đang tràn lan rộng rãi tác hại cả Giáo Hội và xã hội dân sự” ấy, đã phổ biến một bản tóm lược các sai lầm (Syllabus of Errors) bao gồm 80 điều về tất cả những gì lệch lạc xẩy ra như là hậu quả của Thời Âu Châu Cách Mạng (về triết lý, kỹ nghệ lẫn chính trị) thuộc thế kỷ 18 và 19, những sai lầm đã ảnh hưởng và tác hại rất nhiều đến tín lý, luân lý, nhất là quyền bính của Giáo Hội. Đức Thánh Cha Piô IX còn nghiêm bác các sai lầm của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, các Hội Kín, các Hội Thánh Kinh, các Hội Giáo Sĩ Cấp Tiến trong Thông Điệp Quibus Quantisque ngày 9-11-1846, Noscitis et Nobiscum 8-12-1849 và Quante Conficiamur 10-8-1863.

Đức Lêô XII (1878-1903) cũng đã ban hành Thông Điệp Humanum Genus ngày 20-4-1884 để cảnh giác và luận bác Hội Kín Tam Điểm, một hiện thân chứng thực và sống động của Thời Minh Tri và Chủ Nghĩa Minh Tri duy nhân bản, một tổ chức có thể nói là một thứ tôn giáo tôn thờ Tự Nhiên, một Hội Kín chống lại và hủy hoại tất cả những gì là lỗi thời cũ kỹ, để xây dựng lại một “New World Order” (Trật Tự Thế Giới Mới) cho một “New Age” (Thời Đại Mới). Hội Nghị Quốc Tế ở Trent Ý quốc Chống Tam Điểm trong thời đoạn 26-30/9/1896, đã phổ biến một bản tổng lược về đề cương hoạt động của Hội Tam Điểm. Bản tóm lược đề cương hoạt động của Hội Tam Điểm trên đây có thể được đúc kết nơi lời của Dom Paul Benoit trong La Franc Maconnerie như sau: “Nguyên tắc căn bản riêng của chúng ta là chối bỏ mọi giáo điều; khởi điểm của chúng ta là không không; chối bỏ, luôn luôn chối bỏ: phương pháp của chúng ta là như thế; nó sẽ dẫn chúng ta đến việc đặt thành những nguyên tắc: vô thần nơi tôn giáo; vô chủ nơi chính trị; vô sản nơi chính trị kinh doanh

Sang thế kỷ 20, để tiếp tục giúp cho con cái mình có thể nhận ra những sai trái hay mặt trái của thành phần “phản kitô”, cũng như để bảo vệ họ khỏi bị “cỏ lùng trong ruộng” tân thời lấn át, Giáo Hội đã lần lượt ban hành các văn kiện chính thức sau đây:

Ngày 8-9-1907, Đức Piô X đã ban hành Thông Điệp Pascendi Dominici Gregis về các giáo điều của thành phần tân tiến thuyết, trong đó ngài chẳng những đã kỹ lưỡng phân tích và bài bác họ, mà còn, ở cuối bức thông điệp, ngài còn lên án 65 điều sai lầm của họ trong bản Bản Tổng Kê được gọi là Sắc Lệnh Lamentabili Sane đã được ban hành ngày 3-7-1907 bởi Tòa Tra Vấn Hội Thánh Rôma và Hoàn Vũ. Sắc Lệnh này, trước khi nói đến từng điều sai lầm, đã được mở đầu bằng những nhận định như sau: “Với những hậu qủa thật đáng tiếc thương, thời đại chúng ta, khi loại bỏ tất cả những gì là gò bó trong việc tìm kiếm căn nguyên tối hậu của các sự vật, thường theo đuổi những cái mới mẻ nhiệt liệt đến nỗi đã phủ nhận gia sản của giòng dõi loài người. Bởi vậy, nó đã rơi vào những sai lầm trầm trọng, những sai lầm càng nghiêm trọng hơn nữa khi chúng liên quan đến linh quyền, đến việc cắt nghĩa Thánh Kinh, và đến các mầu nhiệm Đức Tin chính yếu. Sự việc hết sức đáng tiếc là có nhiều cây viết Công Giáo cũng đi ra ngoài giới hạn được ấn định bởi các vị Giáo Phụ và chính Giáo Hội. Lấy lẽ là để hiểu biết hơn và sưu tầm lịch sử (như họ nói), họ tìm kiếm việc tiến bộ nơi các tín điều mà, thực tế, không gì khác hơn là việc hủy hoại các tín điều”.

Ngày 19/3/1937, Đức Piô XI đã ban hành Thông Điệp Divini Redemptoris về những sai trái và tai hại của chủ nghĩa cộng sản vô thần. Ngài đã vạch trần bộ mặt của cộng sản như sau: “Theo giáo điều này (cộng sản), thế gian chỉ có một thực tại, đó là vật chất, là những năng lực mù quáng chi phối cả thực vật, động vật lẫn con người. Ngay cả xã hội loài người cũng chẳng là gì khác ngoài hiện tượng hình thành của vật chất, được xoay vần cùng một kiểu cách. Bởi định luật xoay vần khẩn thiết và qua sự tương phản liên lỉ giữa các năng lực, vật chất tiến đến một tổng hợp chung kết là một xã hội vô giai cấp. Với một giáo điều như vậy, rõ ràng là ý tưởng về Thiên Chúa không còn nữa; không còn khác biệt giữa vật chất và tinh thần, giữa linh hồn và thân xác; không còn cả sự sống đời sau của linh hồn sau khi chết và không còn hy vọng gì ở cuộc sống mai hậu. Chủ trương một triết thuyết thiên về duy vật như thế, những người cộng sản cho rằng những tương phản xẩy ra trên thế gian để tiến đến một tổng hợp chung kết của nó là do con người phát tiến. Do đó, họ nỗ lực làm sao để làm cho những cuộc chống chọi giữa các tầng lớp trong xã hội gay n  hơn. Vậy, sự tranh đấu giữa các tầng lớp mà hậu quả của nó là sự hủy hoại và thù ghét bạo tàn được coi như một chiến dịch trong việc phát triển nhân loại. Đàng khác, tất cả các lực lượng khác bất kể, chừng nào còn phản kháng lại tổ chức tranh đấu này đều phải bị hủy diệt như kẻ thù của nhân loại”. Ngài đã tóm tắt “nạn cộng sản” như sau: “Cộng sản, hơn thế nữa, còn bóc lột tự do của con người, cướp đoạt tất cả nhân vị của con người, và loại trừ mọi ràng buộc luân lý cần có trong việc kiềm chế các lũng đoạn của dục vọng mù quáng”.

Ngày 12/8/1950, Đức Piô XII đã ban hành Thông Điệp Humani Generis về một số ý nghĩ sai lầm đe dọa tín lý Công Giáo. Ở đoạn 8 của sứ điệp truyền thanh – Discorsi e Radiomessaggi gửi Hội Nghị Giáo Lý Toàn Quốc Hoa Kỳ ở Boston ngày 26/10/1946, ngài đã tuyên bố một câu phát biểu thời danh, đó là cảm nhận của một vị chủ chăn về tâm trạng con người hiện đại: “tội lỗi của thế kỷ này là tình trạng bị mất đi cảm thuưc tội lỗi”.

Ngày 25/7/1968, Đức Phaolô VI đã ban hành Thông Điệp Humanae Vitae về sự sống con người qua việc truyền sinh và phương pháp ngừa thai tự nhiên, một thông điệp đã bị dữ dội và lịch liệt chống đối bởi chính nội bộ của Giáo Hội, đến nỗi, trong buổi triều kiến chung ngày 15/11/1972, ngài đã phải thốt lên cảm nhận của mình rằng: “Tôi cảm thấy có một luồng khói Satan đã đột nhập vào Đền Thờ Thiên Chúa qua một kẽ nứt hở nào đó”..

Ngày 6/8/1993, Đức Gioan Phaolô II (1978-2005) đã ban hành Thông Điệp Rạng Ngời Chân Lý – Veritatis Splendor “để làm sáng tỏ một số khía cạnh tín lý quan trọng đang thực sự bị khủng hoảng … một số vấn đề nồng cốt về giáo huấn luân lý của Giáo Hội” (đoạn 5). Ngày 25/3/1995, ngài còn ban hành Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống – Evangelium Vitae “để tái xác định một cách chính xác và cương quyết giá trị của sự sống con người và tính cách bất khả xâm phạm của nó” (đoạn 5). Ngày 14/9/1998, ngài lại ban hành bức Thông Điệp Đức Tin và Lý Trí – Fides et Ratio “nhấn mạnh đến đề tài về chính chân lý cũng như về nền tảng của nó liên quan tới đức tin” (đoạn 6).